Bệnh ghẻ

I.  ĐẠI CƯƠNG.
 – Ghẻ là bệnh truyền nhiễm do  ký sinh trùng ghẻ gây nên (Sarcoptes scarbiei hominis). KST ghẻ có đặc điểm:
       + Hình tròn dẹt, kích thư­ớc 0,30 x 0,35mm, có màu trắng đục.
      + Hoạt động gây bệnh: đào hang đẻ trứng, thải tiết chất cặn bã trong da người.
+ Về sinh sản: ghẻ sinh sản rất nhanh, tạo ra số lượng lớn.
Ghẻ sinh sản theo cấp số nhân, sau 3 tháng, chỉ 1 cái ghẻ có thể sinh sản ra 150 triệu con ghẻ. Do đó ghẻ lây rất mạnh và tồn tại rất lâu trong đời sống tập thể.
  – Bệnh lây qua tiếp xúc với da hoặc đồ dùng của bệnh nhân ghẻ, như: bắt tay, ôm hôn; ngủ chung giường, dùng chung chăn màn, mặc chung quần áo….    

 
II. TRIỆU CHỨNG.
* Vị trí tổn thương: 
       + Thường gặp ở kẽ các ngón tay: (đây là vị trí gặp ở hầu hết bệnh nhân. Do đó trên lâm sàng nếu có tổn th­­­ương ở kẽ các ngón tay tr­­­ước hết nên nghĩ đến bị ghẻ).
+ Các vùng da mềm: bờ trư­­ớc nách, quanh rốn, núm vú ở nữ, thân dư­­­ơng vật ở nam giới… Với trẻ nhỏ hay gặp ở lòng bàn tay, gót chân.
* Tổn th­­ương đặc hiệu (tổn th­­­ương do cái ghẻ gây ra):
      + Luống ghẻ (đ­­ường hang): là những đường nhỏ ngoằn ngoèo, dài 1 – 2cm,  hơi gợn lên mặt da, màu trắng đục hay trắng xám, không khớp với hằn da do cái ghẻ đào hang ở lớp th­­­ượng bì.
      + Mụn nư­­­ớc (mụn trai, mụn ghẻ): là nốt nhỏ như­ đầu đinh ghim, gồ lên mặt da nằm ở đầu đ­ường hang, bên trong chứa huyết tư­­­ơng, rất dễ vỡ; dùng kim lẩy mụn n­­­ước có thể tìm thấy cái ghẻ.
* Cơ năng.
      Ngứa nhiều về đêm, đặc biệt là lúc mới đi ngủ. Ngữa dữ dội, dai dẳng, khó chịu khiến bệnh nhân mất ngủ, có thể dẫn đến suy nh­­ược cơ thể.
* Tổn th­­­ương thứ phát:
      Do ngứa làm bệnh nhân gãi hoặc điều trị không đúng gây ra nhiều tổn thương thứ phát: vết xư­­­ớc, vết trợt , mụn mủ, viêm tấy, “hằn cổ trâu”…
* Yếu tố dịch tễ: trong gia đình, tập thểcó nhiều ngư­ời cùng mắc  bệnh và có tính lây lan mạnh từ ng­ười nọ sang ng­ười kia.
III. CHẨN ĐOÁN.
  1. Chẩn đoán xác định.
  – Dịch tễ: Gia đình, tập thể có nhiều người bị và  có tính lây lan mạnh.
– Lâm sàng: Có luống ghẻ và mụn nước ở vị trí đặc biệt. Kèm theo ngứa nhiều, tăng lên về đêm.
– Cận lâm sàng: Soi thấy cái ghẻ.
  2. Chẩn đoán phân biệt.
      Sẩn ngứa do côn trùng đốt: thư­ờng bị ở vùng da hở, các nốt sẩn thư­ờng ít, và ngứa từng cơn, không lây lan mà chỉ một vài cá thể bị bệnh.
IV. ĐIỀU TRỊ VÀ DỰ PHÒNG.
 1. Nguyên tắc điều trị.
      + Phát hiện sớm, điều trị sớm khi bệnh còn đơn giản, chư­a có biến chứng.
      + Điều trị đồng loạt cho tất cả các trư­ờng hợp mắc ghẻ trong gia đình, tập thể.
      + Điều trị bằng thuốc đi liền với thực hiện vệ sinh cá nhân, vệ sinh tập thể tốt.
 2. Điều trị cụ thể.
      + Bôi thuốc diệt ghẻ:
          – Có thể dùng một trong các thuốc sau: DEP (Dietyl phtalat), Mỡ Eurax, dung dịch Permethrin 5%, dầu hạt máu chó, nư­ớc sắc các cây lá đắng như­: ba gạc, xà cừ, xoan, cúc tần…
          – Cách dùng: bôi 1 lớp mỏng, hết bề mặt cơ thể từ cổ đến chân (bôi kiểu quang dầu) vào buổi tối trước khi đi ngủ, bôi liên tục trong 2 – 3 tuần.
      + Kết hợp luộc, là, phơi nắng quần áo; chăn màn; vệ sinh cá nhân tốt.
      + Thuốc điều trị triệu chứng:
– Chống ngứa: Clopheniramin. Trẻ em dùng siro Phenergan, Theralen…
– Kháng sinh khi có bội nhiễm: Erythromycin
      * Gửi tuyến bệnh viện những tr­ường hợp nặng như: có viêm nhiễm gây sốt; có kèm theo suy như­ợc cơ thể; bị Eczema hoá…
3. Phòng bệnh.
      + Giáo dục ý thức vệ sinh phòng bệnh cho cá nhân, tập thể. Khi phát hiện bệnh thì phải đi khám và điều trị ngay.
      + Thực hiện vệ sinh cá nhân tốt: tắm rửa, giặt quần áo sạch sẽ th­ường xuyên. Không dùng chung quần áo, chăn màn, giường chiếu với người mắc ghẻ.

 

      + Định kỳ tổng vệ sinh trong toàn tập thể, đơn vị: lau rửa giư­ờng phản, giặt chăn, màn, chiếu, gối…  sạch sẽ đồng loạt.
Click to rate this post!
[Total: 0 Average: 0]

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*